Cẩn thận dùng thuốc chữa khớp với người mang thai

Người trong độ tuổi sinh đẻ, hay đang mang thai, cần thận trọng khi dùng thuốc điều trị các bệnh xương khớp, bao gồm từ các thuốc thông thường đến các thuốc hiện đại,  Chỉ dùng khi thật cần thiết theo chỉ định của thầy thuốc.

Hiểu tác động của thuốc vào mỗi giai đoạn thai kỳ sẽ có cách dùng đúng, tránh các tác hại của thuốc khớp với thai.

Có 3 giai đoạn thai kỳ: 3 tháng đầu là quá trình hình thành các cơ quan (tim, thần kinh, tay chân); nếu thuốc cản trở làm sai lệch các quá trình này sẽ gây dị tật, quái thai. 3 tháng giữa là quá trình trưởng thành, hoàn thiện; thai ít nhạy cảm, ít bị thuốc gây hại; song lúc này vẫn có bộ phận tiếp tục biệt hóa (thần kinh, sinh dục bên ngoài); tác động của thuốc thì thường tập trung vào các bộ phận này. Ba tháng cuối, các bộ phận hình thành đủ nhưng chức năng hoạt động chưa hoàn thiện (chưa làm tốt việc chuyển hóa thải trừ); trong khi đó nhau thai đã mỏng đi, nhiều thuốc có thể thấm ồ ạt vào thai.

Thuốc trong các bệnh khớp (viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp) có tác dụng khác nhau lên các giai đoạn thai kỳ, gây ra các bất lợi ở mức khác nhau với thai.

Cẩn thận dùng thuốc chữa khớp với người mang thaiẢnh minh họa

Thuốc kháng viêm giảm đau

Các corticoid: không gây quái thai nhưng một số thấm qua nhau thai nhanh, ảnh hưởng xấu đến phát triển thai. Với thai phụ: gây tăng đường huyết, tăng huyết áp, nhiễm độc thai nghén. Khi thai phụ bị viêm khớp dạng thấp, không đáp ứng với các kháng  viêm không steroid (NSAIDs) vẫn có thể dùng corticoid nhưng cần dùng prednisolon vì kháng viêm tốt, khó thấm qua nhau thai, ít hại thai; không nên dùng dexamethasol, bethamethasol vì thấm qua nhau thai nhanh, ảnh hưởng xấu đến phát triển thai.

Kháng viêm không steroid (NSAIDs): với thai: không gây quái thai. Trong 3 tháng đầu thai kỳ nếu cần thiết vẫn có thể dùng với liều thấp, chỉ trong thời gian ngắn. Với thai phụ: NSAIDs ức chế tổng hợp prostaglandin, kéo dài thời gian đông máu, gây băng huyết; cấm dùng cho thai phụ  trong 3 tháng cuối thai kỳ, đặc biệt trước thời gian sinh. NSAIDs cũ (aspirin, ibuprofen, diclofenac), NSAIDs thế hệ mới (nimesulid, meloxicam, celecoxib) các dạng uống tiêm dùng ngoài đều có tác động như nhau với thai (tuy khác nhau mức độ) nên đều áp dụng quy định trên.

Riêng aspirin: tập trung ở nhau thai, có nồng độ gấp 4 lần ở máu mẹ. Dùng liều cao (1,5 - 4g/ngày) có nguy cơ gây chảy máu cho thai phụ và cho trẻ sơ sinh. Dùng gần ngày sinh, có nguy cơ gây băng huyết (vì kéo dài thời gian đông máu). Ở liều bình thường không gây ảnh hưởng nhưng ở liều cao sẽ gây quái thai. Gần đây có nghiên cứu thấy aspirin làm tăng tỉ lệ trẻ sinh ra bị dị tật, dùng kết hợp với ibufrofen tỉ lệ này càng cao. Để cẩn thận, không dùng aspririn (với liều điều trị thông thường), đặc biệt không nên dùng biệt dược chứa hỗn họp aspirin và ibupofen  cho người có thai.

Thuốc cải thiện tình trạng bệnh

Nhóm thuốc này không chỉ làm giảm triệu chứng mà còn có cải thiện tình trạng bệnh. Chúng là các thuốc ức chế miễn dịch, giảm triệu chứng viêm, làm nhẹ các đợt tiến triển, ngưng sự hủy hoại  bảo tồn chức năng khớp. Có 2 nhóm:

Nhóm ức chế miễn dịch thông thường: nhiều thuốc, khác về mức độ trên thai:

- Methotrexat, cyclophosphamid: gây quái thai, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thai. Cấm dùng trong suốt thai kỳ. Ở độ tuổi sinh đẻ phải thử chắc chắn không có thai, có biện pháp ngừa thai hữu hiệu mới  dùng; ngừng dùng ít nhất 3 tháng mới được có thai.

- Leflunomid: gây tích lũy, dùng kéo dài sẽ gây quái thai; dùng trong cuối thai kỳ ảnh hưởng xấu đến trẻ sơ sinh. Thuốc bài tiết qua sữa  ảnh hưởng xấu cho trẻ bú. Nếu có dùng thuốc thì phải nghỉ hai năm mới được có thai.

- Cephalosporin: không gây quái thai. Tuy nhiên với trẻ chậm phát triển trong tử cung hay sinh non, dù sinh ra bình thường vẫn tiềm ẩn khả năng bị bệnh. Không nên dùng trong suốt thời kỳ mang thai, nếu bắt buộc phải dùng vì không có thuốc thay thế thì chỉ được dùng với liều thấp 2 - 3,5mg/kg.

- D-Penicilamin: gây dị tật thai. Khi đang dùng thuốc mà lỡ có thai thì phải ngừng ngay vì tiếp tục dùng thuốc thì sẽ gây dị tật thai.

Nhóm ức chế miễn dịch sinh học: gồm nhiều kháng thể đơn dòng. Thí dụ: thuốc chống lại yếu tố gây viêm (TNF- ), khóa yếu tố gây miễn dịch TNF, tác dụng vào tế bào B ức chế miễn dịch, chống viêm như Rutiximat, Entanrecept  Infliximats, Adalimumab. Thuốc gắn vào bề mặt các tế bào viêm ngăn chặn việc truyền tín hiệu viêm, ngăn chặn hoạt động của tế bào T sản xuất ra kháng thể như Abatacept. Thuốc ức chế Interleukin 6 (IL6) một phân tử truyền tín hiệu về viêm, đau như tocilizumab.

Nhóm thuốc này gây quái thai, ảnh hương xấu đến sự phát triển thai. Không dùng cho người có thai trong suốt thai kỳ. Nếu trước đó có dùng đơn lẻ hay dùng kết hợp với methotrexat thì phải ngừng thuốc một thời gian mới được có thai (với entanercep, influximat là 6 tháng với alinumab là 5 tháng). Người trong độ tuổi sinh đẻ phải thử chắc chắn không có thai, có biện pháp ngừa thai hữu hiệu mới  dùng. Nếu khi đang dùng mà lỡ có thai thì phải ngừng dùng thuốc ngay, có thể không cần phải bỏ thai nhưng phải theo dõi thai cẩn thận bằng siêu âm xác định thai không bị dị tật.

Thuốc chống thoái hóa khớp

Thường dùng là glucosamin sulfat, hyaluronat sodium.

Glucosamin có ái lực đặc biệt với mô sụn, kích thích chọn lọc tế bào sụn bị hư hỏng  sản xuất ra proteopolycan mà không tác dụng trên phần sụn còn lành lặn; ức chế các enzym tiêu hủy protein (collagenase, phospholinase, stromelysin ), giảm các gốc tự do gây phá hủy sụn khớp (suferoxid). Ngoài ra, còn tăng sản xuất cải thiện độ nhớt của hoạt dịch, giảm sự khô cứng khớp. Chúng vốn là các chất có trong cơ thể. Thuốc là chất chiết xuất hay tổng hợp bắt chước cơ thể, đưa vào cơ thể để bù đắp trong lúc thiếu, không gây hại cơ thể, không gây hại, không ảnh hưởng  xấu sự phát triển thai.

DS. HÀ THỦY PHƯỚC

Nguồn: suckhoedoisong.vn